Thứ Hai, 15 tháng 1, 2018

Dự trữ ngoại hối tăng chóng mặt, đã lên đến 54,5 tỷ USD


Chỉ riêng 2 tuần đầu năm 2018 Ngân hàng Nhà nước đã mua ròng 2,5 tỷ USD, trong đó chỉ riêng 3 ngày gần đây mua được khoảng 1,5 tỷ USD.






Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng cho biết như vậy tại Hội nghị tổng kết hoạt động ngân hàng năm 2017 và triển khai nhiệm vụ năm 2018 của Vietcombank tổ chức ngày 12/1.

Thống đốc cho biết, trong năm qua ngành ngân hàng đạt được nhiều thành tích đáng tự hào. Một trong số đó là hoạt động tái cơ cấu, xử lý nợ xấu và điều hành chính sách tiền tệ.

Tỷ giá kể từ khi áp dụng cơ chế tỷ giá trung tâm đã được điều hành linh hoạt, giúp tỷ giá ổn định, Ngân hàng Nhà nước đã mua được lượng lớn ngoại tệ để bổ sung vào kho dự trữ ngoại hối.

Theo Thống đốc, dự trữ ngoại hối nếu như đầu tuần này (tại Hội nghị toàn ngành ngân hàng hôm 9/1) mới dừng ở con số hơn 53 tỷ USD thì cho đến hôm nay đã lên tới 54,5 tỷ USD – một con số cao kỷ lục giúp tăng niềm tin với doanh nghiệp, nền kinh tế và gia tăng niềm tin cho nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam.

Như vậy chỉ riêng 2 tuần đầu năm NHNN đã mua ròng 2,5 tỷ USD, và nâng tổng số ngoại hối đã mua được từ khi áp dụng chính sách tỷ giá trung tâm (đầu năm 2016) tới nay lên đến 22 tỷ USD.



Thống đốc Lê Minh Hưng phát biểu tại hội nghị của Vietcombank sáng 12/1

Dù giá bitcoin giảm một nửa thì đào bitcoin vẫn là nghề kiếm bộn tiền ở Trung Quốc


Thậm chí ngay cả khi phải chịu chi phí điện năng cao, các thợ mỏ vẫn có thể thu được lợi nhuận từ việc đào bitcoin miễn là giá bitcoin cao hơn 6.925 USD/đồng. Hiện nay bitcoin đang được giao dịch ở khoảng 14.000 USD/đồng.






Mới đây, báo cáo từ Bloomberg New Energy Finance (BNEF) cho biết hoạt động đào bitcoin ở Trung Quốc rất có lợi nhuận bởi dù đồng tiền này có thể giảm giá một nửa thì thợ mỏ vẫn có lãi.

Đà tăng 1.400% của bitcoin trong năm ngoái đã đem lại một nguồn cầu lớn về điện năng để vận hành hệ thống máy tính đào tiền số, trong đó 75% máy tính được đặt tại Trung Quốc. Giới chức quốc gia này đang tìm cách giảm thiểu hoạt động này do sự gia tăng đáng kể về khối lượng điện năng sử dụng tại một số tỉnh thành.



Giá bitcoin và điểm sinh lời tại các mức giá điện ở Trung Quốc

"Đào bitcoin với mức giá hiện tại có vẻ như đều có lời với mọi mức giá điện ở Trung Quốc", Sophie Lu - chuyên gia phân tích thuộc BNEF cho biết.

Hoạt động đào tiền số đang bị kiểm soát nhiều hơn, đặc biệt ở Trung Quốc. Các giao dịch tiền số cần phải có một mạng lưới máy tính cực mạnh do đó tốn kém rất nhiều điện năng. Theo Digicomist Bitcoin Energy Consumption Index, nguồn điện được sử dụng để đào tiền số hiện nay bằng tổng nguồn điện năng được sử dụng trong 3,4 triệu hộ gia đình ở Mỹ.

Theo BNEF, khối lượng điện năng sử dụng để đào bitcoin trong năm 2017 tăng lên khoảng 20,5 TWh, tương đương với hơn một nửa khối lượng điện năng sử dụng hàng năm của công ty khai thác khoáng sản lớn nhất thế giới BHP Billiton hoặc bằng 1/10 khối lượng điện cung cấp cho Châu Phi.

Mặc dù có cộng đồng đào bitcoin lớn nhất thế giới, các thợ mỏ Trung Quốc chỉ sử dụng 0,2% tổng lượng điện năng sản xuất hàng năm của quốc gia này. Trong khi một số mỏ đào bitcoin ở Trung Quốc có lợi nhuận ở mức giá nhà nước là 0,13 USD/Kwh, nhiều công ty khác được sử dụng nguồn điện với giá 0,03 USD và có điểm sinh lời ở mức giá bitcoin 3.869 USD.

Rất khó để dự đoán nhu cầu điện năng sử dụng để đào bitcoin trong tương lai bởi nó phụ thuộc vào mức độ hiệu quả và số lượng hệ thống máy tính mà thợ đào sẽ dùng.

Và nếu Trung Quốc triển khai tốt kế hoạch hạn chế sử dụng năng lượng cho các máy đào, thợ mỏ có thể di chuyển đến các khu vực mới khá dễ dàng. Bởi lẽ, hệ thống máy tính dùng để đào bitcoin thường bị hỏng sau khoảng 2 năm sử dụng và các thiết bị thay thế khá rẻ.

Tỷ phú Warren Buffett: Bitcoin sẽ chẳng có kết cục tốt đẹp đâu!


“Nhà đầu tư huyền thoại xứ Omaha” Warren Buffett tự tin cho rằng tương lai của tiền số sẽ kết thúc trong nước mắt; và ông không đổ bất kỳ khoản tiền nào vào bitcoin hay những “người anh em” của nó trong suốt thời gian qua.






“Nói đến tương lai của các loại tiền số nói chung, tôi có thể khẳng định rằng chắc chắn chúng sẽ chẳng đi đến kết thúc tốt đẹp đâu”, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của Berkshire Hathaway trả lời phỏng vấn trên CNBC.

Nhà đầu tư này cho biết ông sẽ không “lại gần” bitcoin và cũng không có hứng thú với những giao dịch liên quan đến đồng tiền này. Nhưng nếu trong 5 năm tới mà các giao dịch quyền chọn này còn tồn tại, ông sẽ mua một trong các sản phẩm của những đồng tiền số còn tồn tại.

Một quyền chọn bán cho phép người nắm giữ có quyền, nhưng không có nghĩa vụ, được bán một tài sản đảm bảo với mức giá nhất định và có thể dùng để đặt cược giá của một tài sản giảm xuống.

Ở thời điểm hiện tại, theo Coimarketcap.com giá bitcoin đang ở quanh mức 14.500 USD, cách xa so với thời kỳ đỉnh cao khi bitcoin đạt mức giá kỷ lục 19.000 USD vào giữa tháng 12/2017.

Việc tăng giá nhanh chóng của bitcoin cũng như các đồng tiền số khác trong năm vừa qua đã thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư phố Wall. Hôm thứ Ba vừa qua, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của JPMorgan Chase & Co Jamie Dimon đã bày tỏ sự nuối tiếc khi gọi bitcoin là “trò lừa đảo” hồi tháng 9.

Tuy nhiên, ông vẫn cho rằng tiền số đang bị “thổi phồng” quá cao, thậm chí ngay cả khi blockchain – nền tảng công nghệ đứng sau tiền số, là hoàn toàn thực tế.

Hôm thứ Tư tuần trước, Berkshire thông báo mới bổ nhiệm Gregory Abel và Ajit Jain vào vị trí Phó Chủ tịch Tập đoàn – một động thái ngầm khẳng định rằng một trong hai người sẽ sớm thay thế Warren Buffett lãnh đạo Tập đoàn này.

Còn đối với thị trường chứng khoán Mỹ, Buffett lập lập rằng việc cắt giảm thuế doanh nghiệp được thực thi từ tháng trước vẫn chưa được phản ánh trong giá cổ phiếu. Buffett so sánh mức cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ 35% xuống còn 21% giống như một “cổ đông im lặng”, trong trường hợp này là Chính phủ Mỹ - đã từ bỏ khoản tiền lớn thu được từ lợi nhuận của các cổ đông khác.

“Bạn sẽ thấy sự thay đổi lớn trong nhóm cổ đông im lặng - những người hài lòng với mức thuế 35%; và giờ đây thay vì nhận được 35% lãi suất từ lợi tức thu được, họ nhận về 21%. Điều này khiến cho các cổ phiếu còn lại có giá trị hơn”, ông nói.

Tiếp nối đà thăng hoa của năm 2017, thị trường chứng khoán Mỹ liên tục tăng điểm trong 6 ngày giao dịch đầu tiên của năm 2018 và chỉ có phiên giảm điểm đầu tiên vào hôm qua (10/1) với mức giảm rất nhẹ.

Giá dầu cao nhất từ 2014, nhà phân tích cảnh báo thị trường quá nóng


Từ đầu tháng 12 đến nay, giá dầu thế giới đã tăng hơn 13%. Trong bối cảnh như vậy, có một số dấu hiệu cho thấy một thị trường quá nóng.






Giá dầu đã chạm mức cao nhất kể từ năm 2014 vào ngày thứ tư (10/1) do sự cắt giảm sản lượng từ OPEC và nhu cầu tăng cao, mặc dù các nhà phân tích cảnh báo rằng thị trường có thể quá nóng.

Sự tăng điểm liên tục của thị trường chứng khoán toàn cầu trong thời gian gần đây cũng kích thích giới đầu tư rót vốn vào các hợp đồng dầu thô giao sau.

Trong sáng nay, giá dầu Brent vẫn tiếp tục bám sát 70 USD/thùng, sau khi đạt 69,29 USD - cao nhất từ tháng 12/2014 - trong phiên trước đó.

Giá dầu thô WTI giao dịch ở mức 63,4 USD/thùng, tăng 0,44 USD/thùng, tương đương tăng 0,7% so với đóng cửa phiên ngày thứ Ba. Trước đó, có lúc giá dầu WTI đạt 63,53 USD/thùng, mức cao nhất kể từ tháng 12/2014.

Nhà phân tích William O’Loughlin thuộc công ty Rivkin Securities ở Australia nhận định, việc OPEC gia hạn thỏa thuận cắt giảm sản lượng và mức tồn kho dầu trên toàn cầu giảm xuống đang đẩy giá dầu lên mức cao hơn.

Nhằm hỗ trợ giá dầu cao, vào tháng 11 năm ngoái, Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC) cùng với Nga và môt số nước sản xuất dầu khác nhất trí gia hạn thỏa thuận cắt giảm sản lượng đến hết năm 2018. Thỏa thuận này là một nỗ lực nhằm vực dậy giá dầu sau đợt giảm sâu kéo dài từ năm 2014.

Trong một báo cáo công bố muộn ngày 9/1 của Mỹ cho thấy, lượng dầu tồn kho của nước này trong tuần kết thúc vào ngày 5/1 đã giảm 11,2 triệu thùng, còn 416,6 triệu thùng.

Điều này xảy ra khi Cục Quản lý Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA) đưa ra dự báo tăng trưởng nhu cầu dầu thế giới vào năm 2018 lên 100.000 thùng/ ngày so với dự đoán trước đó.

Từ đầu tháng 12 đến nay, giá dầu thế giới đã tăng hơn 13%. Trong bối cảnh như vậy, có một số dấu hiệu cho thấy một thị trường quá nóng.

Sản lượng dầu thô của Mỹ được nhận định sẽ vượt mốc 10 triệu thùng/ngày ngay trong tháng này, ngang với mức sản lượng của Nga và Saudi Arabia.

Tại châu Á, khu vực tiêu thụ dầu lớn nhất thế giới, các nhà máy lọc dầu đang chịu sức ép từ giá dầu thô đầu vào cao và nguồn cung dồi dào các sản phẩm lọc hóa trên thị trường. Thực trạng này khiến tỷ suất lợi nhuận của các nhà máy lọc dầu giảm, dẫn tới việc họ có thể giảm hoạt động, giảm đặt hàng mua dầu thô.

Tổng lợi nhuận trung bình của các nhà máy lọc dầu ở Singapore trong tuần này đã giảm dưới mức 6 USD/thùng, mức thấp nhất của mùa trong vòng 5 năm trở lại đây.

Giá dầu thô tại châu Á thường đắt hơn tại các thị trường khác trên thế giới. Trong khi giá dầu Brent và WTI còn ở dưới mức 70 USD/thùng, giá bình quân của các loại dầu thô châu Á đã lên mức 70,62 USD/thùng, theo dữ liệu của Reuters.

Mỹ tìm cách ngăn chặn tình trạng nhôm Trung Quốc đội lốt nhôm Việt Nam để trốn thuế


Các nhà sản xuất nhôm của Mỹ đang tìm kiếm sự bảo vệ thương mại mới chống lại hàng nhập khẩu Trung Quốc trong hôm thứ ba (9/1), cáo buộc China Zhongwang Holdings Ltd và các chi nhánh của công ty này đã trốn tránh thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp của Mỹ bằng cách vận chuyển các sản phẩm nhôm thông qua Việt Nam.






Nhóm các nhà sản xuất nhôm của Mỹ đã đâm đơn kiện lên Bộ Thương mại nước này, với cáo buộc sản phẩm nhôm ép từ Công ty Zhongwang đã được chuyển vào Việt Nam qua liên kết với Công ty TNHH Nhôm Toàn cầu Việt Nam trước khi xuất khẩu sang Mỹ.

Theo quy định của Bộ thương mại nước này, thuế đối với sản phẩm nhôm ép đùn của Trung Quốc hiện nay là 106%.

Phía công ty Zhongwang đáp trả rằng "các cáo buộc đưa ra không có căn cứ".

Điều luật chống phá giá là một trong những động thái của Mỹ nhằm nâng cao các rào cản đối với nhôm nhập khẩu từ Trung Quốc, đặc biệt gia tăng trong bối cảnh chính quyền tổng thống Donald Trump đang cân nhắc các biện pháp hạn chế nhập khẩu nhôm trên nền tảng bảo vệ an ninh quốc gia.

Năng lực sản xuất vượt trội của Trung Quốc đã trở thành yếu tố làm tổn thương nền thương mại của Mỹ và châu Âu, khiến họ phải cân nhắc các động thái mới để bảo vệ ngành công nghiệp trong nước và việc làm khỏi tình trạng tràn ngập hàng nhập khẩu Trung Quốc.

Trong đơn kiến nghị về phía Việt Nam, Hội đồng này cho biết họ đã cung cấp bằng chứng cho thấy liên kết của công ty Zhongwang ở Việt Nam đã thay đổi hình dạng và cấu thành của các sản phẩm nhôm đùn Trung Quốc một cách không đáng kể nhưng sau đó tuyên bố số nhôm này có nguồn gốc từ Việt Nam.

Chủ tịch của nhóm thương mại, ông Jeff Henderson, cho biết, “những hành vi trắng trợn để trốn tránh các yêu cầu nhập khẩu và làm tràn ngập thị trường với những sản phẩm nhôm Trung Quốc cạnh tranh không công bằng này phải dừng lại".

Tại họp báo công tác chống buôn lậu ngày 28/12, ông Nguyễn Phi Hùng, Cục trưởng Cục Điều tra Chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) đã cập nhật kết quả xác minh nguồn gốc xuất xứ kho nhôm ở Bà Rịa – Vũng Tàu.

Ông Nguyễn Phi Hùng cho hay: Thời gian qua, thông tin báo chí có đưa đồng loạt về nghi vấn nhôm Toàn Cầu ở Bà Rịa - Vũng Tàu có dấu hiệu lợi dụng buôn lậu, tuồn hàng xuất xứ Trung Quốc vào. Do đó, Chính phủ đã giao Bộ Công Thương thành lập đoàn kiểm tra liên ngành do Bộ Công Thương chủ trì tiến hành kiểm tra. Một số cơ quan khác ở Trung ương như cảnh sát kinh tế, an ninh kinh tế cũng vào xác minh. Phía hải quan cũng đã tiến hành nghiệp vụ xác minh.

Nói về kết quả kiểm tra, ông Nguyễn Phi Hùng cho biết: Thông qua kiểm tra của đoàn liên ngành, của hải quan và của các cơ quan khác, cho đến nay chưa xác định các nghi vấn về sai phạm cụ thể của DN như báo chí nêu chưa có cơ sở, chưa có căn cứ.

“Chính phủ đã giao Bộ Công Thương, Bộ Tài chính và một số cơ quan chức năng tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho DN, cho công ty nhôm Toàn Cầu thực hiện đúng pháp luật, đúng thông lệ quốc tế”, đại diện Cục Điều tra chống buôn lậu cho hay.

Sếp ngân hàng quyền lực nhất phố Wall hối hận vì đã gọi bitcoin là trò lừa đảo


Dù đã giảm giá mạnh ngay sau phát ngôn hồi tháng 9 của Dimon, kể từ đó đến nay giá bitcoin đã tăng hơn gấp 3 lần.






Jamie Dimon – Chủ tịch kiêm CEO của JPMorgan Chase, một trong những sếp ngân hàng quyền lực nhất ở phố Wall – vừa có phát biểu đi ngược lại với những gì ông đã nói trước đây về tiền số.

Hồi tháng 9, Dimon khiến cả thế giới rúng động khi gọi bitcoin là 1 trò lừa đảo “còn tệ hơn cả bong bóng hoa tulip”, những ai đầu tư vào tiền số là những kẻ ngu ngốc. Tuy nhiên, trong cuộc phỏng vấn với Fox Business hôm qua (9/12), ông lại nói rằng “tôi hối hận vì đã nói như vậy”.

“Blockchain hoàn toàn có thật”, Dimon nói thêm. “Bạn có thể có đồng yên mã hóa, USD mã hóa hay những thứ tương tự như vậy. Tuy nhiên đối với các vụ ICO thì bạn phải xem xét kỹ lưỡng từng dự án cụ thể”. Vị CEO 61 tuổi cho biết ông vẫn chưa quan tâm lắm đến chủ đề này và nghĩ rằng sự can thiệp của Chính phủ có thể làm tổn hại đến tốc độ tăng trưởng và khả năng được chấp nhận rộng rãi của bitcoin.

“Đối với tôi, bitcoin luôn đem đến câu hỏi các Chính phủ sẽ nhìn nhận bitcoin như thế nào khi nó trở nên thực sự lớn. Chỉ là tôi có góc nhìn khác mọi người, và tôi không quan tâm nhiều lắm đến chủ đề này”.

Với đà tăng giá chóng mặt của thị trường tiền số, tất cả mọi người từ các nhà quản lý đến những lãnh đạo ngân hàng hàng đầu đểu phải chú ý đến loại tài sản hoàn toàn mới mẻ này. Dù đã giảm giá mạnh ngay sau phát ngôn hồi tháng 9 của Dimon, kể từ đó đến nay giá bitcoin đã tăng hơn gấp 3 lần.

Hồi tháng 10, JPMorgan Chase từng thông báo sẽ triển khai 1 hệ thống dựa trên công nghệ blockchain mà trong đó giảm mạnh số lượng các bên cần đến để xác nhận các giao dịch thanh toán quốc tế, giảm thời gian giao dịch “từ vài tuần xuống còn vài giờ”. Royal Bank of Canada và Australia and New Zealand Banking Group là các đối tác của JPMorgan Chase trong dự án có tên gọi Interbank Information Network.

Kỳ vọng gì về thị trường tài chính năm 2018?


Mới đây Ủy ban giám sát tài chính quốc gia công bố báo cáo về tình hình kinh tế- tài chính năm 2018 và triển vọng năm 2018.






Ủy ban giám sát tài chính quốc gia dự báo năm 2018 hệ thống tài chính tiếp tục đảm bảo khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, khoảng 19,3% so với cuối năm 2017. Cơ cấu nguồn cung ứng bền vững hơn, giảm bớt sự phụ thuộc vào hệ thống TCTD và tăng nguồn trung dài hạn từ thị trường vốn. Dự kiến, cung ứng từ thị trường vốn tăng 22,5% và từ hệ thống TCTD vào khoảng 17,5%.

Về triển vọng tín dụng năm 2018

Dự báo năm 2018, tín dụng tiếp tục đà tăng trưởng ổn định, mức tăng trưởng tương đương với 3 năm gần đây, vào khoảng 18% -19%. Cơ cấu tín dụng có sự điều chỉnh, có xu hướng giảm tỷ trọng tín dụng trung dài hạn và tăng tỷ trọng tín dụng ngắn hạn.

Tín dụng tiêu dùng dự kiến tiếp tục tăng trưởng cao và là mảng hoạt động chiến lược của nhiều ngân hàng trong năm tới. Chất lượng tín dụng được cải thiện nhờ xử lý quá trình xử lý nợ xấu được đẩy nhanh, các TCTD yếu kém đặc biệt là 3 ngân hàng 0 đồng đang có những dấu hiệu tích cực, khuôn khổ pháp lý cho xử lý tài sản xấu dần được hoàn thiện, các yếu tố kinh tế vĩ mô hỗ trợ mạnh.

Về thanh khoản của hệ thống ngân hàng

Thanh khoản hệ thống năm 2018 được dự báo tương đối ổn định. Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn sử dụng cho vay trung dài hạn có xu hướng giảm do các TCTD đang chủ động cơ cấu lại nguồn và sử dụng nguồn, xu hướng tăng cho vay ngắn hạn và tăng huy động tiền gửi kỳ hạn dài và phát hành GTCG.





Về lãi suất

- Lãi suất huy động và cho vay VND năm 2018 dự báo khá ổn định so với năm 2017, với biên độ giao động khoảng 0,2 điểm %. Lãi suất có thể có biến động nhẹ và cục bộ do: (i) yếu tố mùa vụ vào đầu năm do Tết Nguyên đán và vào cuối năm do nhu cầu tín dụng thường tăng cao; (ii) Một số TCTD buộc phải tăng huy động dài hạn để đảm bảo tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn theo quy định; (iii) Một số TCTD tăng vốn để đáp ứng yêu cầu về CAR theo Basel II.

- Về khả năng hạ lãi suất VND: những yếu tố còn hỗ trợ thuận lợi cho việc giảm mặt bằng lãi suất cho vay: (i) các biến số kinh tế vĩ mô như lạm phát được kiểm soát khoảng 4%, áp lực từ phía tỷ giá không lớn; (ii) Nợ xấu nhiều khả năng được xử lý nhanh và triệt để hơn do cơ chế hỗ trợ từ Nghị Quyết số 42; (iii) dự báo kết quả kinh doanh hệ thống tiếp tục khả quan, thanh khoản tương đối ổn định, các TCTD yếu kém có chuyển biến tích cực.

Về thị trường ngoại hối

- Tỷ giá năm 2018 dự báo sẽ tiếp tục ổn định. Tỷ giá trong năm 2018 có nhiều yếu tố hỗ trợ đó là: (1) Cán cân thương mại có khả năng tiếp tục thặng dư do kinh tế thế giới 17 và thương mại toàn cầu tại các nước mới nổi và đang phát triển tiếp tục xu thế tăng so với năm trước (IMF, WEO-T10); (2) Dòng vốn nước ngoài vẫn có xu hướng tích cực. Trong bối cảnh lãi suất thấp tại các nền kinh tế phát triển, dòng vốn đang có xu hướng chảy vào các khu vực kinh tế mới nổi và đang phát triển để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn.

Tuy nhiên, tần suất tăng lãi suất của Fed trong năm 2018 sẽ nhiều hơn tạo kỳ vọng đồng USD tăng giá trở lại. FED được dự báo sẽ tăng lãi suất thêm 3 lần trong năm 2018, với lộ trình dần dần đưa lãi suất cơ bản về mức 3%. Do đó, tỷ giá USD/VND có thể điều chỉnh tăng khoảng 1,5-2% là khá hợp lý, tiếp tục tạo ra lợi thế cạnh tranh cho hàng xuất khẩu của Việt Nam.

Về thị trường chứng khoán năm 2018

- Thị trường cổ phiếu: với triển vọng tăng trưởng GDP năm 2018 tích cực có thể đạt từ 6,5-6,8%, các biện pháp cải cách quyết liệt và hỗ trợ kinh tế tư nhân của Chính phủ sẽ phát huy tác dụng, các đợt thoái vốn Nhà nước, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước sẽ tiếp tục thu hút mạnh dòng vốn ngoại, UBGSTCQG nhận định thị trường cổ phiếu có khả năng tăng trưởng trong năm 2018, tuy nhiên vẫn sẽ có những đợt điều chỉnh giảm.

- Thị trường TPCP năm 2018 dự báo ít biến động. Khối lượng phát hành TPCP năm 2018 dự kiến thấp hơn so với năm 2017 (khoảng xấp xỉ 150 nghìn tỷ đồng), khối lượng đáo hạn năm 2018 dự kiến cũng giảm hơn so với 2017; lãi suất trúng thầu nhiều khả năng vẫn sẽ duy trì ở mức thấp.

UBGSTCQG nhận định triển vọng dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trong năm 2018 tiếp tục tích cực, đặc biệt tập trung vào các đợt cổ phần hóa, thoái vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp lớn, có chất lượng. Khả năng hấp thụ vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài của thị trường vốn đã được cải thiện mạnh nhờ quy mô thị trường gia tăng, niềm tin của nhà đầu tư vào quyết tâm cải cách của Chính phủ, các chính sách hỗ trợ kinh tế tư nhân.

Do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn Nhà nước và đẩy mạnh niêm yết các doanh nghiệp lớn để tăng thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trong bối cảnh thị trường vốn đang diễn biến thuận lợi

Bộ Tài chính: Nợ công Việt Nam năm 2017 ở mức 61,3% GDP


Tình hình nợ công đã được cải thiện rõ nét khi nợ công Việt Nam tính tới 31/12/2017 ước khoảng 61,3% GDP, thấp hơn con số được ước tính trước đó.





Con số trên vừa được Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà cho biết tại hội nghị tổng kết ngành tài chính ngày 8/1.

Trước đó, báo cáo về tình hình nợ công gửi các đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 4 khóa 14, Chính phủ đã dự kiến cuối năm 2017 dư nợ công có thể ở mức 62,6% GDP.

Có mặt tại buổi tổng kết, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nhắc lại một trong những kỷ lục trong năm 2017, đó là mức tăng trưởng đạt 6,81% GDP. Điều này theo Thủ tướng đã giúp GDP trong năm qua đạt khoảng 5,1 triệu tỷ đồng.

Con số trên theo người đứng đầu Chính phủ là quan trọng bởi từ đó, nợ công tính ra còn 61,3% GDP. Thủ tướng Chính phủ cũng nhớ tới thời điểm đầu năm 2016 khi nợ công lên tới khoảng 64,5% GDP, gần kịch trần. Khi đó, nhiều ý kiến đã lo lắng về nợ công có thể đe dọa nền tài chính Việt Nam.

Tuy nhiên, với kết quả hiện tại, Thủ tướng Chính phủ cho rằng, GDP đạt con số 5,1 triệu tỷ đồng là cố gắng lớn và con số này quan trọng với an toàn nợ công.

Thủ tướng cũng lưu ý, theo quy định, Bộ Tài chính là “chủ công” trong thời gian tới về quản lý nợ công nên bộ cần nghiên cứu để có nguồn vốn vay đồng thời quản lý hiệu quả, an toàn./.





Theo Xuân Dũng

Vietnam+

Hàng nhập nào sẽ hạ giá nhờ hưởng thuế suất 0%?


Sau ôtô, sữa, hàng điện máy, bánh kẹo cùng hàng nghìn mặt hàng có thể được giảm giá nhờ giảm thuế suất nhập khẩu về 0% từ 2018.






Thực hiện các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết, từ ngày 1.1.2018, 10 nghị định về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam đã có hiệu lực.

Theo đó, trong năm 2018 có tổng cộng hơn 16.200 dòng thuế giảm về 0% tập trung ở các nhóm hàng thủy sản, bột mì, chế phẩm bánh kẹo, nhiên liệu diesel, nhiên liệu bay, sơn, chế phẩm giặt tẩy, nhựa, sắt thép và sản phẩm sắt thép, máy móc thiết bị điện, điện tử... theo FTA Việt Nam - Hàn Quốc; sữa và sản phẩm từ sữa, hóa chất và sản phẩm hóa chất, ôtô và phụ tùng linh kiện ô tô... theo FTA Việt Nam - Liên minh kinh tế Á - Âu; thức ăn gia súc đã chế biến, hóa chất vô cơ, hoá chất hữu cơ nhựa, gỗ, sắt thép, máy móc thiết bị, bộ phận xe cộ... theo FTA Việt Nam - Chi Lê...

Đáng chú ý là hàng loạt mặt hàng nhập khẩu từ khu vực ASEAN trong biểu thuế ASEAN (ATIGA) đã có thuế nhập khẩu về 0% từ 1.1.2018 với các mặt hàng như ôtô, xe máy, phụ tùng linh kiện ôtô xe máy, hoa quả nhiệt đới, tủ lạnh, máy điều hòa, sữa...

Về lý thuyết, việc giảm thuế nhập khẩu sẽ kéo giảm đáng kể giá nhiều mặt hàng. Chẳng hạn, với Nghị định ban hành biểu thuế ASEAN - Trung Quốc (ACFTA), thuế nhập khẩu quần áo, máy móc điện tử sẽ giảm từ mức 5% và 10% xuống 0% hay sữa, các mặt hàng từ sữa nhập khẩu từ Châu Âu sẽ cũng giảm về 0%.

Tuy nhiên, trả lời báo giới, đại diện Bộ Tài chính cho rằng, không dễ đánh giá mức độ tác động của việc giảm thuế tới giá các sản phẩm nói trên vì còn phụ thuộc vào nhu cầu thị trường. Tuy nhiên, về nguyên tắc, thuế giảm, giá sẽ giảm để tăng sức cạnh tranh. Riêng với mặt hàng ôtô, trái với kỳ vọng của thị trường, giá các dòng xe nhập từ ASEAN chưa giảm, thậm chí còn tăng do nguồn cung giảm vì các nhà nhập khẩu hiện đang vướng nhiều rào cản kỹ thuật và chưa thể nhập xe về nước sau ngày 1.1.2018.

Bức tranh hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam ra sao trong năm 2017?


Mới đây, Ủy ban giám sát tài chính quốc gia công bố báo cáo về tình hình kinh tế - tài chính năm 2017 và triển vọng năm 2018. Theo đó hệ thống các tổ chức tín dụng có nhiều điểm sáng trong hoạt động kinh doanh năm 2017






Về tín dụng cho nền kinh tế


Năm 2017, tăng trưởng tín dụng tương đương với năm 2016 (khoảng 19%). Thị phần tín dụng tập trung chủ yếu ở nhóm NHTM NN và NHTM CP, lần lượt chiếm 51,8% và 41,3% toàn hệ thống. Tín dụng giữ tốc độ tăng trưởng cao và ổn định trong 3 năm liên tiếp, từ năm 2015. Năm 2018, tín dụng có khả năng tiếp tục đà tăng trưởng ổn định như những năm trước (vào khoảng 18% – 19%). Tỷ trọng tín dụng trung dài hạn giảm. Tín dụng trung dài hạn chiếm 53,7% tổng tín dụng (cuối năm 2016 là 55,1%).

Ngoài ra, tín dụng bằng VND chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tín dụng (91,6%). Cơ cấu tín dụng theo ngành nghề chuyển biến tích cực.

Tín dụng vào các ngành công nghiệp, thương mại và hoạt động dịch vụ tăng 21,8% so với năm 2016, chiếm 78,4% tổng tín dụng (năm 2016 chiếm 77,8%). Tín dụng vào lĩnh vực nông nghiệp tăng khoảng 18,7% (chiếm 8,11% tổng tín dụng). Tín dụng vào hoạt động kinh doanh bất động sản và xây dựng này tăng 12,2% so với năm 2016, chiếm 15,8% trong tổng tín dụng (năm 2016 là 17,1%).

Tín dụng tiêu dùng tăng cao, khoảng 65% (năm 2016 tăng 50,2%), chiếm 18% trong tổng tín dụng (năm 2016 là 12,3%). Trong đó, chủ yếu là cho vay với mục đích mua, sửa chữa nhà ở, chiếm 52,9% (năm 2016 là 49,5%); Cho vay mua trang thiết bị gia đình tăng 6,5%, chiếm 15,3%; cho vay mua phương tiện đi lại tăng 35,2%, chiếm 8,3%. Trong năm 2018, tín dụng tiêu dùng có thể tiếp tục tăng trưởng cao và là một trong những mảng hoạt động chiến lược, nhiều tiềm năng của các TCTD.

Về huy động vốn

Năm 2017, tiền gửi khách hàng (gồm tổ chức kinh tế và dân cư) tăng khoảng 19% (năm 2016 tăng 19,3%). Huy động thông qua phát hành giấy tờ có giá tăng mạnh (ước tăng 38%) do một số TCTD phát hành GTCG nhằm tăng vốn cấp 2 để cải thiện hệ số CAR và cơ cấu lại kỳ hạn nguồn vốn huy động. Vốn huy động bằng VND chiếm 90,5% tổng vốn huy động (năm 2016 là 89,1%).

Huy động bằng ngoại tệ chiếm tỷ trọng khoảng 9,5% (năm 2016 là 10,9%). Tỷ trọng huy động ngoại tệ giảm do trần lãi suất huy động USD ở mức 0%, tỷ giá USD/VND ổn định, tâm lý găm giữ ngoại tệ giảm. Vốn huy động có kỳ hạn chiếm 80,9% tổng huy động (năm 2016 chiếm 79,7%), còn lại là vốn huy động không kỳ hạn.

Về thanh khoản

Thanh khoản của hệ thống ngân hàng tương đối ổn định nhờ việc NHNN mua được lượng lớn ngoại tệ, và cung ứng tiền ròng khoảng gần 124 nghìn tỷ đồng từ đầu năm đến nay. Tỷ lệ tín dụng/huy động (LDR) bình quân của hệ thống khoảng 87,3% (năm 2016 là 85,6%). Trong đó, tỷ lệ LDR bằng VND là 88,6%, bằng ngoại tệ là 75,8%.

Lãi suất liên ngân hàng liên tục giảm mạnh về cuối năm. Khác với năm 2016, lãi suất liên ngân hàng ở mức rất thấp, giảm mạnh so với cuối năm 2016. Tính đến ngày 21/12/2017, lãi suất O/N ở mức 0,9%, lãi suất 1 tuần là 1,1%, lãi suất 1 tháng là 2,2% (giảm so với cuối tháng 12/2016 khoảng 3-4,2 điểm % các kỳ hạn).

Về lãi suất

Lãi suất trên thị trường 1 ổn định kể từ năm 2015. Lãi suất huy động bình quân khá ổn định. Lãi suất huy động VNĐ kỳ hạn trên 12 tháng phổ biến ở mức 6,4-7,2%. Lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên giảm khoảng 0,5-1% so với đầu năm. Đối với khu vực sản xuất kinh doanh thông thường, lãi suất cho vay ở mức 6,8-11%/năm.

Mặc dù thanh khoản hệ thống khá tốt, các điều kiện vĩ mô tương đối thuận lợi, lãi suất có tín hiệu giảm nhưng chưa như kỳ vọng vì: Thứ nhất, thị trường tiền gửi và thị trường liên ngân hàng kém liên thông. Lãi suất liên ngân hàng duy trì ở mức khá thấp trong khi lãi suất trên thị trường tiền gửi giảm không nhiều, do thanh khoản dồi dào trên thị trường tập trung chủ yếu ở các TCTD lớn. Một số TCTD nhỏ hoặc thuộc diện tái cơ cấu thiếu vốn vẫn khó khăn trong việc cận dòng vốn lãi suất thấp trên thị trường liên ngân hàng, buộc phải giữ nguyên hoặc tăng lãi suất huy động trên thị trường tiền gửi.

Thứ hai, nợ xấu vẫn là rào cản lớn cho việc hạ lãi suất trong khi NIM của các TCTD vẫn còn ở mức khiêm tốn so với các nước trong khu vực. NIM của hệ thống ngân hàng tuy có xu hướng tăng trở lại (ở mức từ 2,74% năm 2014 lên mức khoảng 3% năm 2017) nhưng vẫn thấp so với các nước như Thái Lan (3,07%), Indonesia (5,82%), Philippines (3,58%). Điều này khiến các TCTD không có nhiều động lực để giảm lãi suất cho vay.

Thảo Nguyên

Theo Nhịp Sống Kinh Tế

BVSC: Tăng trưởng tín dụng năm 2017 ước đạt 18%


Đây là thông tin do công ty chứng khoán Bảo Việt (BVSC) mới đưa ra ngày 5/1 vừa qua.






Dẫn nguồn tin từ một lãnh đạo cấp vụ của Ngân hàng Nhà nước, BVSC cho biết: tăng trưởng tín dụng tính đến 31/12/2017 ước khoảng 18,06%. Con số này thấp hơn khoảng 3% so với mục tiêu Chính phủ điều chỉnh. Xét về cơ cấu kỳ hạn, tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn có xu hướng giảm sau khi tăng liên tục trong giai đoạn 2013- 2016. Tín dụng trung dài hạn chiếm 53,7% tổng tín dụng (năm 2016 là 55,1%).


Điều này cho thấy, tình hình phát hành các công cụ nợ dài hạn của các doanh nghiệp bắt đầu khởi sắc. Phân theo ngành nghề, tín dụng đối với các ngành công nghiệp, thương mại và hoạt động dịch vụ khác chiếm tỷ trọng 78,4%, tăng 21,8%; trong khi tỷ lệ này của 2016 là 77,8%. Ngoài ra, tín dụng vào lĩnh vực nông nghiệp tăng khoảng 18,7% (chiếm tỷ trọng khoảng 8,11% tổng tín dụng).

Cùng đó, tỷ trọng tín dụng vào hoạt động kinh doanh bất động sản và xây dựng giảm nhẹ, mức tăng đạt 12,2% so với năm 2016, chiếm 15,8% tổng tín dụng (năm 2016 là 17,1%). Đáng chú ý, trong dư nợ cho vay hoạt động dịch vụ khác, cho vay đối với ngành hoạt động làm thuê, sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ tự tiêu dùng của hộ gia đình có mức tăng trưởng mạnh nhất và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu tín dụng theo ngành nghề, tỷ trọng tăng từ 8,8% (năm 2012) lên khoảng 16,1% năm 2017.

BVSC cho rằng việc tín dụng tiêu dùng tăng trưởng nhanh là tín hiệu tích cực về cầu tiêu dùng hộ gia đình nhưng mặt khác đây là lĩnh vực cho vay khá rủi ro đối với các ngân hàng nên vẫn cần sự theo dõi sát sao của NHNN.

Chuyên gia CIEM: Phương án tăng thuế TNCN của Bộ Tài chính không tác động nhiều đến người lao động, nhưng cộng hưởng với VAT, BHXH lại là câu chuyện khác


Tác động điều chỉnh thuế thu nhập cá nhân (TNCN) - theo ông Nguyễn Anh Dương Phó Trưởng ban Phụ trách, Ban Chính sách kinh tế vĩ mô, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) - cần được đánh giá trong bối cảnh đề xuất tăng hàng loạt sắc thuế khác cũng như việc áp dụng mức tính BHXH mới.






Dư luận đang đặc biệt quan tâm đến đề xuất điều chỉnh Thuế thu nhập cá nhân (TNCN), nằm trong dự thảo Luật Sửa đổi 6 luật Thuế vừa được Bộ Tài chính hoàn thiện hồ sơ gửi Bộ Tư pháp thẩm định.

Bộ Tài chính, với lý do quá nhiều bậc thuế khiến việc quyết toán thuế tăng không cần thiết, đề xuất giảm bậc thuế từ 7 xuống còn 5. Trong dự thảo mới nhất, Bộ đưa ra 2 phương án giảm bậc thuế.

Biểu thuế TNCN hiện hành gồm 7 bậc





Biểu thuế TNCN theo 2 phương án mới





Theo tính toán của Bộ Tài chính, phương án 1 khiến tổng thu ngân sách giảm khoảng 1.300 tỷ đồng, trong khi phương án 2 giúp tổng thu ngân sách tăng 500 tỷ. Là cơ quan soạn thảo, Bộ nghiêng về phương án thứ 2.

Để nhìn nhận thêm về tác động của việc điều chỉnh biểu thuế TNCN theo phương án mới đến nền kinh tế cũng như người lao động, báo Trí Thức Trẻ đã có trao đổi với ông Nguyễn Anh Dương, Phó Trưởng ban Phụ trách, Ban Chính sách kinh tế vĩ mô, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM).

Theo ông, đưa ra đề xuất điều chỉnh Thuế TNCN vào thời điểm này có phù hợp không?



Đồ họa: Hương Xuân.

Trong những năm trở lại đây, tăng thu Ngân sách Nhà nước, đặc biệt là nguồn thu nội địa không hề dễ dàng. Thường thì phải đến vài ngày/tuần cuối năm mới biết có đạt mục tiêu thu ngân sách hay không. Do áp lực lớn, việc cơ quan thuế nghiêng về các phương án để bổ sung nguồn thu từ các sắc thuế (trong đó có thuế TNCN) là điều dễ hiểu.

Tôi cho rằng việc tăng cường ý thức và trách nhiệm của người dân với thuế TNCN cũng phù hợp xu hướng tái cơ cấu ngân sách ở nhiều nền kinh tế trên thế giới. Cụ thể, cùng với đà tăng trưởng kinh tế và cải thiện thu nhập của người dân, cơ cấu thu ngân sách cũng chuyển dần từ các nguồn thu kém bền vững hoặc kém thân thiện với môi trường (như khai khoáng, bán tài sản thuộc sở hữu nhà nước,...) sang các nguồn thu bền vững hơn.

Vấn đề ở chỗ, phần giải trình cho nội dung điều chỉnh các sắc thuế (trong đó có thuế TNCN) chưa thực sự thuyết phục, kể cả trong đề xuất sửa đổi, bổ sung gần đây nhất. Cụ thể, nội dung điều chỉnh các sắc thuế chưa đặt trong tổng thể chung về giảm thâm hụt ngân sách nhà nước.

Đáng lưu ý, nỗ lực tái cơ cấu chi ngân sách nhà nước theo hướng giảm chi thường xuyên còn khá chậm so với kỳ vọng. Điều chỉnh các sắc thuế đơn thuần theo hướng “tăng thu để bù chi” sẽ khó giúp đạt mục tiêu đề ra về tái cơ cấu ngân sách nói riêng và củng cố ổn định kinh tế vĩ mô nói chung.

Không một cá nhân nào “thích” nộp nhiều thuế TNCN hơn. Song người dân sẽ đồng thuận hơn nếu tăng thu thuế TNCN đi kèm với cải thiện quy mô, chất lượng hàng hóa, dịch vụ công. Rõ ràng, người nộp thuế có quyền đặt câu hỏi: Phần dịch vụ công mà họ được hưởng là gì, được cải thiện ở phần nào, có tương xứng với số tiền thuế nộp thêm không?

Không giải trình hợp lý nội dung này sẽ trở thành một thiếu sót lớn, đặc biệt đối với đề xuất điều chỉnh một sắc thuế có thể ảnh hưởng trực tiếp tới hàng vạn người như thuế TNCN.

Giả sử được thông qua, lần điều chỉnh biểu thuế TNCN này tác động như thế nào đến nền kinh tế nói chung?

Nếu buộc phải tăng, thu ngân sách từ thuế thường để đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển (không tính đến yêu cầu trả nợ). Tuy nhiên, trong cơ cấu thuế hiện nay, thuế TNCN chỉ chiếm có một tỷ trọng rất khiêm tốn.



Đồ họa: Hương Xuân.

Ví dụ trong năm 2016, thu thuế TNCN nói chung chỉ chiếm 5,92% tổng thu Ngân sách Nhà nước, thu thuế TNCN từ tiền công, tiền lương thậm chí còn thấp hơn (4,06%). Vì vậy, tăng thu thuế TNCN (nếu có, theo đề xuất của Bộ Tài chính) khó bổ sung nguồn lực đáng kể cho chi đầu tư phát triển. Tác động trở lại đối với nền kinh tế, do đó, cũng không nhiều.

Việc điều chỉnh thuế TNCN chủ yếu tác động đến thu nhập khả dụng của các hộ gia đình/cá nhân nằm trong các ngưỡng thu nhập chịu thuế tương ứng (chẳng hạn như từ 10 đến 80 triệu/tháng theo Phương án 2). Theo mô phỏng vi mô của tôi, chỉ 5,5% hộ gia đình sẽ giảm thu nhập khả dụng (tức phải nộp nhiều thuế TNCN hơn) theo Phương án 2.

Với các hộ này, mức giảm thu nhập khả dụng trung bình là 0,57%. Điều này khó ảnh hưởng nhiều đến tiêu dùng và tiết kiệm của các hộ gia đình. Tác động, dù vậy, cần được đặc biệt quan tâm trong năm đầu tiên thực hiện điều chỉnh chính sách thuế TNCN.

Chính ở đây, cần xây dựng và thực hiện các chính sách chi để bảo đảm đủ tổng cầu trong nền kinh tế nói chung và cầu đầu tư nói riêng.

Ông có thể cụ thể hơn về tác động đối với người lao động, đặc biệt ở phương án 2 của Bộ Tài chính?

Bỏ qua mục tiêu tăng thu khoảng 500 tỷ của Bộ Tài chính, cá nhân tôi đánh giá cao Phương án 2 vì giữ nguyên 2 bậc thấp nhất trong biểu thuế TNCN. Mô phỏng vi mô của chúng tôi cho thấy khoảng 96,31% người có thu nhập nằm trong ngưỡng thu nhập chịu thuế dưới 10 triệu đồng/tháng và, vì vậy, không chịu ảnh hưởng trực tiếp theo Phương án 2.



Đồ họa: Hương Xuân.

Các bậc tiếp theo cũng đủ tương đối dài, qua đó giúp giảm xáo trộn về mức thuế TNCN trong thời gian dài với không ít nhóm đối tượng. Chẳng hạn, với những hộ trước đây có ngưỡng thu nhập chịu thuế trong khoảng 15-20 triệu thì mức thuế suất vẫn giữ nguyên theo Phương án 2, và họ phải có mức tăng trưởng thu nhập rất lớn thì mới rơi vào mức thuế suất thuế TNCN cao hơn (lên 30%).

Quan trọng hơn, nếu chính sách thuế TNCN mới được giữ ổn định, thu nhập của người dân được cải thiện hàng năm thì mức giảm phúc lợi của người dân (nếu có) sẽ chỉ đáng kể trong năm đầu tiên. Trong các năm tiếp theo, mức giảm phúc lợi có thể ít nghiêm trọng hơn.

Nếu thực hiện chính sách hỗ trợ tốt, có chọn lọc cho các hộ gia đình thì mức giảm phúc lợi trong năm đầu tiên (của chính sách thuế TNCN mới) có thể không đáng kể.

Tuy nhiên, đánh giá trên chưa đầy đủ vì chỉ mới đề cập đến thuế TNCN. Phúc lợi của các hộ gia đình, người lao động còn chịu tác động của những điều chỉnh chính sách khác như đề xuất tăng thuế suất VAT, điều chỉnh tăng BHXH, v.v. Người dân khó có thể đồng thuận nếu không có đánh giá tổng thể về điều chỉnh thuế TNCN trong mối tương tác với các điều chỉnh chính sách nói trên.

Các giả định trên được đưa ra nếu biểu thuế TNCN mới được giữ ổn định trong một thời gian dài. Yêu cầu ổn định ấy có thể rất khó khăn, đặt trong bối cảnh thu Ngân sách Nhà nước gặp nhiều áp lực như hiện nay.

Thực tiễn những năm qua cho thấy không ít sắc thuế phải điều chỉnh chỉ 3-5 năm sau khi ban hành/sửa đổi. Kể cả khi người dân đồng thuận với một phương án mới về biểu thuế TNCN, họ vẫn có quyền lo ngại về khả năng tiếp tục điều chỉnh chính sách thuế TNCN trong các năm tiếp theo. Do vậy, cần có cam kết rõ ràng, nhất quán về định hướng ổn định chính sách thuế TNCN trong thời gian đủ dài.

Vậy lộ trình điều chỉnh thuế nên như thế nào để người dân ít bị ảnh hưởng nhất?

Thứ nhất, lộ trình điều chỉnh thuế (trong đó có thuế TNCN) cần phải đặt trong tổng thể cân đối thu chi Ngân sách Nhà nước, không nên và không thể làm riêng. Cần tư duy ngược lại: nếu có thể khống chế, tiến tới giảm đáng kể chi ngân sách (đặc biệt là chi thường xuyên) thì yêu cầu tăng thu thuế sẽ không còn bức thiết.

Thứ hai, cần thực hiện chiến lược truyền thông hiệu quả hơn về chính sách thuế (trong đó có thuế TNCN). Truyền thông không chỉ hướng vào thu theo sắc thuế nào, lộ trình ra sao, mà còn phải đi kèm với giải trình về sử dụng nguồn thu, hỗ trợ các nhóm có thu nhập thấp nhất hoặc chịu nhiều rủi ro biến động thu nhập, v.v.

Thứ ba, tránh đồng nhất tăng thuế suất và tăng thu thuế. Chính ở đây, việc sử dụng và công bố các kết quả đánh giá định lượng có ý nghĩa quan trọng.

Nhìn rộng hơn, chính sách thuế cần hướng nhiều hơn tới “phục vụ” người nộp thuế. Đơn giản hóa, hiện đại hóa các thủ tục nộp thuế, hoàn thuế, v.v. là cần thiết, song không đủ. Thu Ngân sách Nhà nước có thể tăng nhờ nỗ lực thực chất, hiệu quả nhằm chống thất thu thuế, thay vì những phương án điều chỉnh sắc thuế khác nhau.

Cảm ơn ông!

10 dấu ấn tiêu biểu của ngân hàng BIDV năm 2017


Với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, năm 2017, ngành Ngân hàng tiếp tục thực hiện thành công chính sách tiền tệ, kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá ngoại hối, tiếp tục thực hiện cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, xử lý nợ xấu…






Năm 2017, cùng những diễn biến thuận chiều của kinh tế thế giới, với sự đồng thuận, nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, kinh tế Việt Nam tiếp tục đạt được những kết quả khả quan: GDP 6,81%; lạm phát 3,53%; Giải ngân FDI trên 17,5 tỷ USD; Dự trữ ngoại hối đạt kỷ lục với 51,5 tỷ USD, xuất khẩu đạt trên 213 tỷ USD.

Chỉ số VN-Index đóng cửa năm 2017 ở mức 984,24 điểm - đứng thứ 3 trong các nước chỉ số chứng khoán tăng mạnh nhất thế giới ... Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị APEC 2017 và được sự đánh giá cao của cộng đồng quốc tế... Vị thế, uy tín, tín nhiệm Việt Nam tiếp tục được nâng cao...

Huy động vốn toàn ngành tăng 16%; Tín dụng tăng 19%; Chất lượng tín dụng chuyển biến tích cực... Triển vọng về hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng được định hạng tăng từ mức ổn định lên mức tích cực trong vòng 12 đến 18 tháng...

Trong bối cảnh đó, nghiêm túc quán triệt phương châm hành động "Kỷ cương - Trách nhiệm - Hiệu quả" và kế hoạch cơ cấu lại toàn diện hoạt động BIDV giai đoạn 2016-2020, ngay từ đầu năm 2017, toàn hệ thống đã quyết tâm hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ kế hoạch kinh doanh đã đề ra.

Đến 31/12/2017, với sự nỗ lực của hơn 2,4 vạn cán bộ trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, BIDV đã về đích thành công. Trong kết quả chung đó, nổi lên 10 dấu ấn tiêu biểu:

1. Hoàn thành thắng lợi vượt trội nhiệm vụ kế hoạch kinh doanh, các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch

Tổng tài sản đạt 1.176.000 tỷ đồng, tăng trưởng 16,7% so với 2016; tiếp tục khẳng định vị thế Ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô lớn nhất Việt Nam.

Tổng nguồn vốn huy động đạt 1.106.517 tỷ đồng, tăng trưởng 17,9% so với 2016; trong đó tiền gửi tổ chức kinh tế và dân cư đạt 934.111 tỷ đồng, tăng trưởng 17,4%, chiếm 12,5% Huy động vốn toàn ngành ngân hàng.

Tổng quy mô tín dụng và đầu tư đạt 1.136.778 tỷ đồng, tăng trưởng 18% so với 2016; trong đó cho vay nền kinh tế đạt 862.604 tỷ đồng, tăng trưởng 17%, chiếm 13,12% quy mô tín dụng toàn ngành ngân hàng.

Hiệu quả hoạt động ngày càng bền vững; chênh lệch thu chi đạt kết quả tốt nhất từ trước đến nay là 24.032 tỷ đồng, tăng trưởng 44% so với 2016; Lợi nhuận trước thuế hợp nhất toàn hệ thống đạt 8.800 tỷ đồng, vượt chỉ tiêu của Đại hội đồng cổ đông đề ra...

Nộp Ngân sách Nhà nước hơn 5.000 tỷ đồng, đứng trong top đầu các doanh nghiệp nộp ngân sách Nhà nước.

2. Thực thi có hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ và chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy sự phát triển của các địa phương

Chủ động, tích cực triển khai Nghị quyết số 01/NQ-CP, Nghị quyết 35, Chỉ thị 26 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị 01/CT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, ngay từ đầu năm, BIDV đã triển khai nhiều biện pháp hỗ trợ thị trường, cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Trong đó, chú trọng cho vay 5 lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ (nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghiệp cao).

BIDV tích cực kết nối, phát triển khách hàng, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thông qua việc hợp tác chặt chẽ với các địa phương, hiệp hội, trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp...

Nghiên cứu cải cách thủ tục cấp tín dụng hướng tới xây dựng quy trình gọn nhẹ, đơn giản phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp cùng các chương trình tín dụng linh hoạt về lãi suất, điều kiện tài sản bảo đảm.

BIDV cũng tích cực tham gia tài trợ, phối hợp tổ chức nhiều chương trình lớn của quốc gia; tham gia các Diễn đàn xúc tiến đầu tư hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương; tài trợ vốn cho các dự án kinh tế trọng điểm quốc gia...

3. Cơ cấu lại toàn diện, mạnh mẽ hoạt động gắn với xử lý nợ xấu và nâng cao năng lực cạnh tranh, khả năng phục vụ khách hàng

BIDV đã xây dựng và triển khai đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại giai đoạn 2 (2016-2020) theo Đề án 1058 của Chính phủ, gắn với xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42/2017/QH14, Chỉ thị số 32/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị 06/CT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

Cơ cấu lại nền khách hàng với điểm nhấn tăng trưởng khách hàng bán lẻ, khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa, khách hàng doanh nghiệp nước ngoài; giảm dần tỷ trọng của khách hàng doanh nghiệp lớn. Trong đó, nền khách hàng cá nhân đạt hơn 10 triệu khách hàng, tương ứng trên 10% dân số, tăng 14% so với năm 2016.

Nền khách hàng SME tăng trưởng 14%, đạt khoảng 236.000 khách hàng, chiếm 98% tổng số khách hàng doanh nghiệp BIDV, là đơn vị dẫn đầu hệ thống các Ngân hàng thương mại về quy mô hoạt động phân khúc khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Đối với phân khúc khách hàng FDI, năm 2017, BIDV đã ký kết hợp tác phát triển với với các tổ chức, ngân hàng Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan… nâng tổng số lượng khách hàng FDI đạt gần 3.000 khách hàng, gia tăng 20% so với năm 2016...

Sắp xếp, củng cố và phát triển mạng lưới kinh doanh nhằm gia tăng khả năng phục vụ khách hàng.

Thành lập 39 Phòng giao dịch, nâng tổng số thành 191 chi nhánh và 854 Phòng giao dịch. Phát triển mạnh kênh phân phối hiện đại với 1.825 ATM và khoảng 56.000 POS; chính thức triển khai hệ thống Contact Center với chức năng tiên tiến, hiện đại; triển khai thành công Chi nhánh trực tuyến trên Facebook, đa dạng cách thức tiếp cận của khách hàng với ngân hàng...

Thực hiện Nghị quyết của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu, BIDV đã hoàn thiện và đưa vào triển khai đề án "Chiến lược phát triển của BIDV tại Đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2017 - 2021" nhằm nâng cao khả năng khai thác các tiềm năng thị trường; hỗ trợ đắc lực để thực hiện mục tiêu của Chính phủ.

BIDV đã tích cực triển khai các biện pháp tăng vốn điều lệ theo lộ trình, thực hiện tiếp xúc, làm việc với các quỹ đầu tư, công ty chứng khoán, ngân hàng; xúc tiến chuẩn bị các công việc bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài.

BIDV cơ cấu lại toàn diện danh mục đầu tư theo hướng gia tăng hiệu quả với cơ cấu danh mục đầu tư tập trung vào các lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh dài hạn.

4. Hoạt động bán lẻ phát triển toàn diện, vượt bậc cả về quy mô, hiệu quả, chất lượng

Hoạt động bán lẻ của BIDV không ngừng được củng cố và vững chắc với các bước phát triển vượt bậc về quy mô, hiệu quả, chất lượng.

Kết thúc năm 2017, Huy động vốn dân cư đạt: 523.643 tỷ đồng, tăng trưởng 20,3%, chiếm 56% tổng Huy động vốn. Tín dụng bán lẻ đạt 238.526 tỷ đồng, tăng trưởng 33%, chiếm 27,5% tổng dư nợ tín dụng. Thu nhập ròng bán lẻ tăng trưởng 35% so với năm 2016.

Dịch vụ Ngân hàng điện tử có sự đột phá về số lượng giao dịch, đạt 41 triệu giao dịch, gấp đôi số lượng giao dịch năm 2016.

Tổng cộng lượt khách hàng đăng ký mới dịch vụ ngân hàng điện tử trong năm 2017 đạt trên 2,1 triệu lượt, tăng 37% so với năm 2016, trong đó tăng trưởng dịch vụ BSMS đạt cao nhất từ trước đến nay (khoảng 1 triệu khách hàng tăng mới).

Số lượng giao dịch chuyển tiền liên ngân hàng qua kênh NHĐT chiếm 45% tổng giao dịch chuyển tiền đi toàn hệ thống BIDV (trong đó số lượng giao dịch chuyển tiền đi của BIDV qua Napas đạt 3,3 triệu, tăng 3,5 lần so với năm 2016); BIDV xếp thứ 1 về số lượng và giá trị giao dịch, chiếm 22,25% tổng số lượng giao dịch toàn thị trường qua kênh Napas.

Hoạt động kinh doanh thẻ có sự tăng trưởng tốt: thu nhập thuần hoạt động thẻ tăng trưởng 37% so với 2016; doanh số thanh toán thẻ tín dụng tăng trưởng trên 47%; tổng doanh số sử dụng thẻ tăng trưởng khoảng 25%; mức tăng ròng thẻ nợ nội địa cao gấp 1,37 lần so với 2016.

Hoạt động bán lẻ của BIDV được nhiều tổ chức uy tín trong nước và quốc tế ghi nhận như: lần thứ ba liên tiếp nhận giải thưởng "Ngân hàng bán lẻ tốt nhất Việt Nam" và lần thứ hai liên tiếp nhận giải thưởng "Ngân hàng có sản phẩm cho vay nhà ở tốt nhất Việt Nam" (Tạp chí The Asian Banker).

Lần thứ hai liên tiếp nhận giải thưởng "Ngân hàng bán lẻ tiêu biểu nhất" và "Ngân hàng có Sản phẩm dịch vụ Sáng tạo độc đáo năm 2017 với sản phẩm BIDV SmartBanking" (VNBA & IDG); "Ngân hàng có doanh số thẻ tín dụng phân khúc khách hàng phổ thông lớn nhất" và "Ngân hàng vận hành thẻ tín dụng hiệu quả nhất" (VISA); "Ngân hàng có doanh số giao dịch thương mại điện tử cao nhất" (Mastercard).

5. Thu nhập ròng hoạt động kinh doanh vốn và tiền tệ đạt kết quả ấn tượng, đóng góp quan trọng vào tổng thu nhập của BIDV

Hoạt động kinh doanh vốn và tiền tệ năm 2017 tạo được bước phát triển đột phá với kết quả kinh doanh xuất sắc: tổng thu nhập ròng từ hoạt động kinh doanh vốn và tiền tệ lần đầu tiên đạt mốc 2.000 tỷ đồng, cao nhất trong 10 năm qua, tăng trưởng 36,7% so với 2016.

Năm 2017, hoạt động kinh doanh vốn và tiền tệ tiếp tục được các tổ chức quốc tế ghi nhận, vinh danh với gần 20 giải thưởng uy tín. Trong đó, lần thứ 5 nhận giải thưởng quốc tế "Ngân hàng cung cấp các sản phẩm phái sinh tốt nhất Việt Nam" (Tạp chí Asia Risk); nhận giải thưởng "Nhà tư vấn phát hành trái phiếu tốt nhất Việt Nam 2017" (Tạp chí Finance Asia), nhận giải thưởng "Ngân hàng giao dịch trái phiếu tốt nhất Việt Nam 2017" (Tạp chí Global Banking and Finance), 12 giải thưởng dành cho dòng sản phẩm có thu nhập cố định"...

6. Hoạt động của khối công ty, liên doanh ổn định, tích cực với điểm nhấn kết quả kinh doanh tốt của BSC, BIC và sự ra đời của liên doanh BSL

Với sự phát triển khởi sắc của thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2017, hoạt động của Công ty Chứng khoán BIDV (BSC) đã đạt được những kết quả ấn tượng. Lợi nhuận trước thuế của BSC đạt 190 tỷ đồng, hoàn thành hơn 220% kế hoạch năm.

Tổng công ty Bảo hiểm BIC đạt lợi nhuận trước thuế 186 tỷ đồng; đứng thứ 5 trong top 10 công ty bảo hiểm uy tín nhất Việt Nam;

Tháng 9/2017, BIDV đã tiến hành khai trương đưa vào hoạt động Công ty Cho thuê tài chính TNHH BIDV - SuMi TRUST (BSL) – liên doanh giữa BIDV và SuMi TRUST - ngân hàng tín thác hàng đầu Nhật Bản. Công ty liên doanh cho thuê tài chính đầu tiên tại Việt Nam này hứa hẹn mở ra nhiều cơ hội mới và sự thay đổi trên thị trường cho thuê tài chính Việt Nam.

Hoạt động của các đơn vị như Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Campuchia (BIDC), Ngân hàng Liên doanh Lào Việt (LVB), Ngân hàng Liên doanh Việt Nga (VRB) tiếp tục ổn định,...

7. Tiếp tục đổi mới mô thức quản trị, điều hành hệ thống; phân định thẩm quyền trách nhiệm của Hội đồng quản trị và Ban điều hành; hoàn thiện các chính sách quản lý, cơ chế phân cấp ủy quyền; tăng cường hiệu quả hoạt động kiểm tra giám sát, kiểm toán nội bộ, kiểm soát rủi ro an toàn hệ thống

Tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên 2017 và kiện toàn nhân sự Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát nhiệm kỳ 2017 – 2022.

Tiếp tục đổi mới công tác quản trị điều hành tiến dần theo thông lệ quốc tế với việc tổ chức các phiên họp định kỳ của Ban lãnh đạo, các phiên làm việc để thảo luận, thông qua các giao dịch lớn, phức tạp; đảm bảo phân cấp và phân định rõ chức trách, nhiệm vụ giữa Hội đồng quản trị , Ban điều hành trong quản lý và điều hành hoạt động ngân hàng.

Công tác quản trị điều hành tập trung vào việc chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, tăng cường kiểm soát tăng trưởng và chất lượng tín dụng, đẩy mạnh hoạt động bán lẻ và các sản phẩm dịch vụ ngân hàng; tăng cường huy động vốn với chi phí hợp lý, đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn, đảm bảo thanh khoản và an toàn toàn hệ thống.

Tập trung triển khai phương án cơ cấu lại lại BIDV giai đoạn 2 gắn với xử lý nợ xấu, trích dự phòng rủi ro, nâng cao năng lực tài chính, tập trung tiết giảm chi phí hoạt động; tăng cường công tác kiểm tra giám sát; thực hiện nghiêm túc cải cách hành chính, phát triển nguồn nhân lực, tinh giản lao động, tập trung xây dựng kế hoạch và triển khai Ngân hàng số…

Tiếp tục thực hiện công khai minh bạch hoạt động trên thị trường; thực hiện kiểm toán và định hạng tín nhiệm theo thông lệ quốc tế. Năm 2017, BIDV được các tổ chức định hạng toàn cầu như Moody’s, Standard & Poor’s đánh giá "tích cực", "triển vọng"...

8. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động Ngân hàng; vận hành an toàn, triển khai các dự án công nghệ hỗ trợ thông suốt mọi hoạt động kinh doanh, dịch vụ ngân hàng của BIDV

Tập trung triển khai các dự án CNTT có tầm ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động kinh doanh và quản trị điều hành của BIDV, như:

Dự án Chuyển đổi hệ thống Corebanking; các dự án phục vụ phát triển ngân hàng điện tử, hệ thống thẻ, dự án thay thế hệ thống Tài trợ thương mại, dự án trang bị mới hệ thống Quản lý khoản vay, trang bị hệ thống quản trị nhân sự tổng thể, hệ thống Webportal; dự án Khung quản trị dữ liệu toàn hàng, triển khai tích hợp MIS lần 1...

Tiếp tục phát huy vị thế là Ngân hàng giữ vững vị trí số 01 trong suốt 10 năm liên tiếp (từ 2007 đến nay) về chỉ số sẵn sàng cho ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin – truyền thông (VietNam ICT Index), BIDV đã chú trọng đầu tư phát triển ứng dụng công nghệ mới, xây dựng hệ sinh thái dịch vụ Tài chính ngân hàng trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

Năm 2017, BIDV đã cung cấp ra thị trường nhiều sản phẩm dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao như: BUNO – chuyển tiền không cần nhớ số tài khoản, Thanh toán qua Samsung Pay, Chuyển tiền nhanh liên ngân hàng 24/7 trên các kênh internet, di động và ATM, Dịch vụ nộp thuế Hải qua điện tử 24/7, Sản phẩm BIDV SmartBanking; Thanh toán sử dụng QR code; Thẻ dành cho giới trẻ Young+...

Đến nay, tỷ lệ sử dụng dịch vụ là 3,52 sản phẩm/1 khách hàng (tăng 6% so với năm 2016).

Các hoạt động hỗ trợ kinh doanh phục vụ thanh toán trong nước, quốc tế, hạch toán kế toán,... an toàn, liên tục và thông suốt trong môi trường an ninh mạng ngày càng diễn biến phức tạp; vận hành đạt hiệu suất gần 100% và không phát sinh sự cố làm gián đoạn hoạt động trên toàn BIDV.

Hệ thống Ngân hàng cốt lõi SIBS quản lý đạt trên10 triệu khách hàng; số lượng giao dịch trong năm 2017 đạt gần 2,5 tỷ giao dịch (tăng trưởng khoảng 30% so với năm 2016), bình quân đạt khoảng 7,2 triệu giao dịch/ngày, trong đó xác lập kỷ lục với 16 triệu giao dịch trong ngày 29/12/2017.

Hệ thống công nghệ thông tin của BIDV được nhiều tổ chức uy tín trong nước và quốc tế ghi nhận như:

Giải thưởng Công nghệ thông tin – Truyền thông Asean 2017 (ASEAN ICT Awards 2017), lần thứ ba liên tiếp nhận giải thưởng "Ngân hàng Việt Nam tốt nhất về Công nghệ và Vận hành" do Tạp chí Asian Banking & Finance – ABF trao tặng; lần thứ ba liên tiếp nhận giải thưởng Sao khuê năm 2017 với Hệ thống đăng ký dịch vụ trực tuyến và Hệ thống quản lý hóa đơn VAT…

9. Hoạt động đối ngoại tạo lập những điểm nhấn tiêu biểu

Hoạt động của BIDV được ghi nhận tại Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Myanmar trong các chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại 2 quốc gia - là sự khẳng định vai trò, nỗ lực và những đóng góp của BIDV sau nhiều năm hợp tác, hiện diện tại các thị trường này.

BIDV cũng mở rộng và tăng cường hợp tác với các ngân hàng lớn trong khu vực: Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ...

Năm 2017, BIDV đã tích cực tham gia và góp phần vào thành công chung của các sự kiện đối ngoại của đất nước và của ngành Ngân hàng: Đồng tài trợ Hội nghị APEC 2017; Phát huy vai trò Chủ tịch Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị Hội đồng Hiệp hội Ngân hàng ASEAN (ABA) lần thứ 47; tham gia tổ chức Diễn đàn thanh toán điện tử...

Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động thanh toán quốc tế, ngân hàng đại lý; duy trì quan hệ hợp tác với hơn 2.300 định chế tài chính trên toàn cầu...

10. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tiếp tục đảm bảo việc làm, đời sống cho người lao động; bồi đắp giá trị văn hóa doanh nghiệp và thực hiện tốt trách nhiệm cộng đồng

BIDV tiếp tục duy trì môi trường lao động chuyên nghiệp, văn minh, vì sự phát triển con người; đảm bảo việc làm, thu nhập và cơ hội thăng tiến cho cán bộ nhân viên BIDV.

Năm 2017, BIDV bổ nhiệm và bổ nhiệm lại 1.129 cán bộ cấp cao, cấp trung; tổ chức 355 khóa đào tạo với 27.818 lượt cán bộ tham gia, trong đó có 68 khóa đào tạo online với 15.777 lượt cán bộ tham gia; tổ chức thành công khóa đào tạo "Lãnh đạo Ngân hàng tương lai" thứ 6 với sự tham gia của 86 học viên - là khóa học có kết quả đào tạo tốt nhất trong suốt 6 khóa đã tổ chức...

Với những nỗ lực đó, BIDV đã được vinh danh là "Doanh nghiệp vì người lao động" năm 2017.

BIDV cũng đã tổ chức thành công chuỗi hoạt động kỷ niệm 60 năm ngày thành lập BIDV với quy mô toàn hệ thống và Lễ kỷ niệm tại 12 chi nhánh tiêu biểu; Hoàn thành nội dung cuốn sách Lịch sử BIDV 1957-2017.

Tổ chức Đại hội Chi bộ các cấp, Đại hội Công đoàn các cấp, Đại hội Đoàn thanh niên; tổ chức thành công Hội diễn văn nghệ... Các hoạt động này góp phần bồi đắp giá trị văn hóa doanh nghiệp và tình đoàn kết trong ngôi nhà chung BIDV.

Với tấm lòng và trách nhiệm vì cộng đồng, bên cạnh các hoạt động kinh doanh hiệu quả, BIDV tiếp tục dành ngân sách hoạt động, quyên góp ủng hộ của cán bộ nhân viên, người lao động để triển khai thực hiện nhiều chương trình an sinh xã hội thiết thực; bàn giao 412 phòng/lớp học và 25 công trình/chương trình giáo dục; 87 công trình/chương trình y tế; 323 căn nhà đại đoàn kết..v.v... Tổng kinh phí cam kết hỗ trợ trong năm 2017 là 350 tỷ đồng.